Tâm Thức Cũng Là Thức Ăn – Vô Ngã và Không

Tựa đề Tâm Thức Cũng Là Thức Ăn – Vô Ngã và Không
Ngày nói ngày 2 tháng 12 năm 2012
Nơi nói Xóm Mới, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung

Chúng ta nên nương tựa vào tàng thức để tìm ra câu trả lời cho những vấn đề của mình. Ta có thể xem mỗi vấn đề như một công án thiền. Lúc đó ta có thể dùng tàng thức để ấp ủ nó cho đến khi câu trả lời nảy mầm, bừng lên.

 

Tâm thức cũng là thức ăn nên ta phải khéo léo chọn lựa như là chọn thức ăn lành mạnh cho mình vậy. Tâm thức cộng đồng có ảnh hưởng rất lớn đến tâm thức cá nhân. Thầy nêu ví dụ của nhạc sĩ Phạm Duy và khuyên rằng đừng nên ở những nơi mà tâm thức cộng đồng có nhiều thù hận, giận hờn.

 

Thầy giảng lại một đoạn trong kinh “Rong chơi trời phương ngoại”. Thầy cũng giải thích sự khác biệt về giáo lý trong các tông phái Phật giáo. Giáo lý của Bụt có hai phần chính là vô ngã và không (no-self and emptiness). Thầy Xá Lợi Phất (Sariputra) nhấn mạnh giáo lý vô ngã trong khi hoằng pháp. Kết quả là các giáo phái như “Thượng tọa bộ” (Theravada) và “Nhất thiết hữu bộ” (Sarvastivada) không dạy nhiều về “không”. Phải đến sau khi Thầy Xá Lợi Phất tịch, khoảng một trăm năm trước Thiên Chúa giáng sinh (B.C.), các giáo phái như “Kinh Lượng Bộ”  (Sautrantika)  và Độc Tử Bộ (Vatsiputriya) cùng với văn học đại thừa mà tiêu biểu là  kinh Bát Nhã, giáo lý “không” mới được phát triển đúng mức.

 

“Tìm cái vô vi ngay trong cái hữu vi, ngón tay và mặt trăng

Vô tác là như thế, còn vô hành? Vô hành là các hiện tượng kia, trong đó có những cái ngã, đều có tính cách trống rỗng, không có thực thể, không có tự tính. Đây là giáo lý Không (sūnyatā). Giáo lý này không được Thượng Tọa Bộ và Hữu Bộ khai thác đúng mức. Vì vậy cho nên mới có chủ trương ngã không pháp hữu. Vô hành (asamskrta) có nghĩa là các hành ấy bề ngoài như là đang có nhưng thực sự chúng không thực sự có, vì chúng chỉ là những tập hợp (formation) không có thực chất. Đặc tính của các hành là trống rỗng (sūnya). Giáo lý ngã không pháp hữu của Hữu Bộ như vậy là không trung thực lắm với những gì Bụt dạy. Vì vậy mà bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, phong trào Đại thừa đã phát sinh để khai triển giáo pháp vô hành này bằng nền văn học Bát Nhã. Những kinh điển như Bát Thiên Tụng Bát Nhã (Astasāhasrikā prajñāparamitā sūtra) bắt đầu ra đời và cả một nền văn học phong phú được lập thành để khai triển giáo lý vô hành, nghĩa là giáo lý pháp không, công việc mà Thượng Tọa Bộ và Hữu Bộ đã không chịu làm. Tuệ giác tùy thuận trí (anulomatajñāna) cho ta thấy tất cả các hành đều nương vào nhau mà được thành lập, không phải cái này sinh ra cái kia, cho nên ý niệm tương hành (sahasamskrta, interconditioning) có thể giúp ta vượt khỏi cặp đối đãi cuối cùng là hữu vi và vô vi để ta có thể thấy rằng Niết bàn nằm ngay trong sinh tử. Bài học chúng ta học được là những gì Bụt dạy đều là những phương tiện quyền xảo như những ngón tay chỉ mặt trăng, ta phải khéo léo lắm mới thấy được mặt trăng và không bị kẹt vào ngón tay. Bụt ra đời để cứu độ chứ không phải để lập ra những chủ thuyết, dù đó là chủ thuyết vô ngã.”

Trích trong bài “Ghi lại vắn tắt sự hành trì và học hỏi trong khóa tu” ở trang web Làng Mai.

 


Leave a Reply