Chuyển Luân Thánh Vương

Tựa đề Chuyển Luân Thánh Vương
Ngày nói ngày 31 tháng 1 năm 2013
Nơi nói Xóm Hạ, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung
do Cindy Nguyen

Trong buổi giảng pháp này, Thầy Nhất Hạnh (Thầy) đã nói qua về lịch trình Tết tại tu viện, ôn lại bài giảng nói về kinh người áo trắng, và sau đó nói đến đề tài “Chuyển Luân Thánh Vương”. Thầy cũng đề cập đến sự áp dụng đạo Bụt vào các nước dân chủ.Thầy nhắc lại lần trước Thầy nói về Kinh người áo trắng- xưa kia Bụt giảng cho ông Cấp Cô Độc- một thương gia. Đồng thời kinh này cũng để giúp cho đời sống tâm linh hàng ngày của cư sĩ (người tu tại gia). Chỉ cần giữ 5 giới (không sát sanh, không uống rượu, không nói dối, không tà dâm, không nói lời chia rẽ); 4 phép trì niệm (Bụt, pháp, tăng, giới) thì sẽ không sa vào các đường xấu, có hạnh phúc ngay trong hiện tại và sẽ tới giác ngộ hoàn toàn.

Bụt dạy vua Manahama nghệ thuật lãnh đạo dân bằng cách giữ 5 giới cộng thêm 5 lực đó là tín, tấn, niệm, định và huệ. Tín là tin vào giáo pháp, dùng đức, không dùng bạo lực uy quyền giải quyết vấn đề. Tấn là siêng năng tinh tấn. Niệm là chăm niệm Bụt, pháp và tăng, giới. Đặc biệt riêng cho các nhà chính trị có 6 niệm, tức là thêm 2 niệm-thí và thiên. Niệm thí là rộng lòng giúp dân chúng gặp khó khăn mà không mong cầu đền đáp hay còn gọi là thí vô tướng. Chỉ vui khi thấy người khác được vui. Niệm Thiên là niệm các vị thần trời. Định là giữ vững tâm tu. Huệ là trí tuệ đạt được nhờ tu hành.

Ngày xưa vua còn được gọi là chuyển luân thánh vương. Chuyển là xoay chuyển, luân là bánh xe. Vua còn gọi là thiên tử tức là con của trời. Vua có nhiều quyền lực, và có bảy báu. Bảy báu gồm có: chiến sa tức là xe ra trận; tượng là voi; mã là ngựa; châu là của cải châu báu; nữ là hoàng hậu, cung tần mỹ nữ; cư sĩ là các bộ trưởng lo về văn hoá, chính trị, kinh tế….; trú binh thần là các tướng tài. Nhờ bảy báu này, vua có sức mạnh, quyền lực rất lớn. Bụt khuyên vua nên buông bỏ những trừng phạt bằng gươm dao, mà dùng giáo pháp. Nhờ dân chúng ủng hộ, nên thi hành dễ dàng. Bụt là Chuyển Luân Pháp Vương tức là nhà lãnh đạo bằng giáo pháp.

Bụt khuyên vua phải lấy chánh pháp làm chuẩn, bảo trợ chánh pháp bằng 5 giới và 6 niệm, khuyến khích dân chúng cùng thực hành. Tạo nên đoàn kết trong cả nước. Nếu có các vị A-la-hán- những vị đã tu thành đạo, vua phải đến thăm, tham vấn vì họ là đại diện cho pháp, định, và huệ. Vua đến để học hỏi cách xử lý, chứ không phải để tặng quà.

Ảnh hưởng những lời dạy này, các vua triều Nguyễn ở Việt nam đã phải ăn chay, nằm đất để tế trời mỗi khi đất nưoc có nạn. Trong những lúc như thế vua phải tu hành, không được gần nữ và cầu nguyện cho toàn dân. Ở một nước dân chủ, mọi việc do duyên khởi, mọi người nương tựa và tác động lẫn nhau. Bụt dạy nếu có tu học đều đặn, đoàn kết, hoan hỉ, và sử dụng ái ngữ, không sát sanh, giữ gìn các giới đã thọ, tuân thủ các luật đã đặt ra thì sẽ có được một nước dân chủ vững mạnh. Tôn trọng ý kiến người có kinh nghiệm, giúp đỡ người khó khăn, đi chùa, tôn trọng tham vấn các bật tu thành đạo, hôn nhân phải có cưới hỏi đàng hoàng là một số yếu tố làm cho nước dân chủ được vững mạnh. Trong phần kết, Thầy nói nếu ta siêng năng tu tập và giữ giới thì đã qua bờ bên kia rồi.

 


Leave a Reply