Làm thế nào để sống có phẩm chất?

Tựa đề Làm thế nào để sống có phẩm chất?
Ngày nói ngày 5 tháng 12 năm 2013
Nơi nói Xóm Mới, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2013-2014 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Duy Biểu Học

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung

Thầy cho rằng phẩm chất của đời sống không tùy thuộc vào các tiện nghi vật chất mà là vào việc ta sống có sâu sắc hay không. Mình có thể sống sâu sắc hơn khi mình có đủ hiểu và thương.  Muốn hiểu ta cần phải có công phu học đạo. Đạo học tìm hiểu về những đau khổ trong ta và trong người kia. Hiểu biết về khổ đau sẽ đưa tới chấp nhận và thương yêu. Ta học đạo không phải là để trốn tránh cuộc đời và để được về Thiên Quốc hay Cực Lạc trong tương lai. Đạo học không phải là tôn giáo.

Đạo là con đường chế tác hiểu và thương. Đạo học giúp ta sống sâu sắc từng giây phút của đời sống hàng ngày, giúp ta trị liệu những khổ đau bức xúc trong mình, và biết cách chế tác hỷ, lạc, và an trong đời sống hàng ngày khi đi đứng, nói, cười, làm việc.  Ta tới một tu viện để tìm học ở những người đã thực tập thành công. Như vậy ta đi thiền hành không phải là để dồn công đức cho tương lai mà là để có an bình hỷ lạc trong từng bước chân.  Đi thiền không phải là để đi tới một cứu cánh nào khác mà đi như thế nào để có an, hỷ, và lạc trong khi đi. Nó là con đường an lạc hạnh phúc chứ không phải là con đường đưa tới an lạc hạnh phúc . Ngồi thiền không phải là để thành Phật mà là để lắng dịu thân tâm để có an, hỷ, lạc, và đưa tới định là sự lắng dịu tập trung và tới cái thấy sâu sắc hơn là tuệ. Cái thấy đó tháo gỡ và trị liệu cho mình. Nhưng ngồi thiền không phải chỉ để có an, hỷ, lạc, mà cũng là để sort out những vấn nạn của mìn,  để xử lý tháo gỡ những cái mình đang còn bị kẹt.  Trước hết ta phải có sự lắng dịu ngưng tụ lại.  Đó là chỉ (samatha, stopping).  Làm sao trong khi ngồi mình có sự lắng dịu trong thân tâm. Muốn vậy phải biết sử dụng hơi thở để làm lắng dịu cảm thọ, bức xúc trong thân và tâm. Đi thiền làm sao cho mỗi bước chân mìng buông thư relaxed.  Đi như một người vô sự, tự do. Trong ta có thói quen đi cho mau, làm cho xong đi như một cái máy.  Ta phải tập làm chủ từng bước chân và hơi thở. Nhờ vậy ta sẽ lắng dịu (định) xuống và bắt đầu thấy (tuệ).  Những sự thực tập này cởi trói cho mình.  Mình đang bị ràng buộc bởi những khỗ đau hờn giận.  Cái thấy làm cho mình thoát ra sự ràng buộc đó.  Cuộc sống của mình do vậy sẽ có phẩm chất hơn. Khi mình đi đứng, nằm ngồi, ăn cơm mình thấy có hỷ, lạc, an và từ bi. Và mình biết là phẩm chất đời sống của mình cao, không uổng một đời. Nếu như mình bận rộn quá, muốn làm giàu, muốn làm number one, thì mình sẽ không có thì giờ làm những việc này.  Thành ra mình phải lựa chọn thôi.

Sau đó thầy ôn lại những điều đã học về tàng thức. Thầy giới thiệu hai khái niệm chủng tử và hiện hành và sáu đặc tính của chủng tử là sát na diệt, quả câu hữu, hằng tùy chuyển, đãi chúng duyên, tính quyết định, và dẫn tự quả.  Bốn duyên: nhân, tăng thượng, đải chúng, sở duyên duyên. Bất thối chuyển chỉ có thể có nếu ta biết chăm sóc các duyên. Thầy giảng về tương tức và tương nhập. “Năng lễ sở lễ tánh không tịch / Cảm ứng đạo giao nan tư nghì”.  Thầy dạy phương pháp để có thể tiếp xúc sâu sắc với Bụt, Kitô, đất mẹ bằng cái nhìn tương tức và tương nhập.

Tài liệu

Tóm lược những ý chính của Khóa tu Mùa Đông 2013 – 2014
51 Tâm hành .PDF – .DOC
30 Bài tụng Duy Thức .PDF – .DOC
50 bài tụng Duy Biểu .PDF – .DOC
50 Verses on the Consciousness .PDF – .DOC
50 verses in chinese (唯表五十頌) .PDF – .DOC

Tìm Thấy Sự Thảnh thơi Trong Bận Rộn

Tựa đề Tìm Thấy Sự Thảnh thơi Trong Bận Rộn
Ngày nói ngày 24 tháng 11 năm 2013
Nơi nói Xóm Hạ, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2013-2014 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Duy Biểu Học

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung

Thầy phân biệt sự khác nhau giữa hai cách nói: con đường đi tới hạnh phúc – con đường hạnh phúc. Người thực tập nên chọn cách thứ hai để sao cho có hạnh phúc ngay trong khi thực tập chứ không phải đợi đến khi chứng đắc giác ngộ rồi mới có hạnh phúc. Không có con đường đưa tới hạnh phúc bởi hạnh phúc chính là con đường. Và niết bàn cũng vậy. Như vậy trong Tứ Diệu Đế, Đạo đế chính là Diệt Đế và Tập Đế cũng là Khổ Đế. Người thực tập phải làm sao cho có hạnh phúc ngay trong khi ngồi thiền, đi thiền hành, chấp tác thì mới đúng. Phải tìm thấy sự thảnh thơi trong bận rộn, hạnh phúc ở trong khổ đau, giải thoát và giác ngộ từ trong phiền não.

Thầy sau đó giảng về tám thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức (6), mạt na thức (7), a lại gia thức hay tàng thức (8). Thầy giới thiệu sơ lược về tám thức trong Duy Biểu Học, mối quan hệ giữa các thức. Thầy sau đó đi sâu vào tàng thức và mạt na thức.

Tài liệu

Tóm lược những ý chính của Khóa tu Mùa Đông 2013 – 2014
51 Tâm hành .PDF – .DOC
30 Bài tụng Duy Thức .PDF – .DOC
50 bài tụng Duy Biểu .PDF – .DOC
50 Verses on the Consciousness .PDF – .DOC
50 verses in chinese (唯表五十頌) .PDF – .DOC

Tâm Thức Cũng Là Thức Ăn – Vô Ngã và Không

Tựa đề Tâm Thức Cũng Là Thức Ăn – Vô Ngã và Không
Ngày nói ngày 2 tháng 12 năm 2012
Nơi nói Xóm Mới, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung

Chúng ta nên nương tựa vào tàng thức để tìm ra câu trả lời cho những vấn đề của mình. Ta có thể xem mỗi vấn đề như một công án thiền. Lúc đó ta có thể dùng tàng thức để ấp ủ nó cho đến khi câu trả lời nảy mầm, bừng lên.

 

Tâm thức cũng là thức ăn nên ta phải khéo léo chọn lựa như là chọn thức ăn lành mạnh cho mình vậy. Tâm thức cộng đồng có ảnh hưởng rất lớn đến tâm thức cá nhân. Thầy nêu ví dụ của nhạc sĩ Phạm Duy và khuyên rằng đừng nên ở những nơi mà tâm thức cộng đồng có nhiều thù hận, giận hờn.

 

Thầy giảng lại một đoạn trong kinh “Rong chơi trời phương ngoại”. Thầy cũng giải thích sự khác biệt về giáo lý trong các tông phái Phật giáo. Giáo lý của Bụt có hai phần chính là vô ngã và không (no-self and emptiness). Thầy Xá Lợi Phất (Sariputra) nhấn mạnh giáo lý vô ngã trong khi hoằng pháp. Kết quả là các giáo phái như “Thượng tọa bộ” (Theravada) và “Nhất thiết hữu bộ” (Sarvastivada) không dạy nhiều về “không”. Phải đến sau khi Thầy Xá Lợi Phất tịch, khoảng một trăm năm trước Thiên Chúa giáng sinh (B.C.), các giáo phái như “Kinh Lượng Bộ”  (Sautrantika)  và Độc Tử Bộ (Vatsiputriya) cùng với văn học đại thừa mà tiêu biểu là  kinh Bát Nhã, giáo lý “không” mới được phát triển đúng mức.

 

“Tìm cái vô vi ngay trong cái hữu vi, ngón tay và mặt trăng

Vô tác là như thế, còn vô hành? Vô hành là các hiện tượng kia, trong đó có những cái ngã, đều có tính cách trống rỗng, không có thực thể, không có tự tính. Đây là giáo lý Không (sūnyatā). Giáo lý này không được Thượng Tọa Bộ và Hữu Bộ khai thác đúng mức. Vì vậy cho nên mới có chủ trương ngã không pháp hữu. Vô hành (asamskrta) có nghĩa là các hành ấy bề ngoài như là đang có nhưng thực sự chúng không thực sự có, vì chúng chỉ là những tập hợp (formation) không có thực chất. Đặc tính của các hành là trống rỗng (sūnya). Giáo lý ngã không pháp hữu của Hữu Bộ như vậy là không trung thực lắm với những gì Bụt dạy. Vì vậy mà bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, phong trào Đại thừa đã phát sinh để khai triển giáo pháp vô hành này bằng nền văn học Bát Nhã. Những kinh điển như Bát Thiên Tụng Bát Nhã (Astasāhasrikā prajñāparamitā sūtra) bắt đầu ra đời và cả một nền văn học phong phú được lập thành để khai triển giáo lý vô hành, nghĩa là giáo lý pháp không, công việc mà Thượng Tọa Bộ và Hữu Bộ đã không chịu làm. Tuệ giác tùy thuận trí (anulomatajñāna) cho ta thấy tất cả các hành đều nương vào nhau mà được thành lập, không phải cái này sinh ra cái kia, cho nên ý niệm tương hành (sahasamskrta, interconditioning) có thể giúp ta vượt khỏi cặp đối đãi cuối cùng là hữu vi và vô vi để ta có thể thấy rằng Niết bàn nằm ngay trong sinh tử. Bài học chúng ta học được là những gì Bụt dạy đều là những phương tiện quyền xảo như những ngón tay chỉ mặt trăng, ta phải khéo léo lắm mới thấy được mặt trăng và không bị kẹt vào ngón tay. Bụt ra đời để cứu độ chứ không phải để lập ra những chủ thuyết, dù đó là chủ thuyết vô ngã.”

Trích trong bài “Ghi lại vắn tắt sự hành trì và học hỏi trong khóa tu” ở trang web Làng Mai.

 

Vô tác và vô hành

Tựa đề Vô tác và vô hành
Ngày nói ngày 6 tháng 12 năm 2012
Nơi nói Xóm Thượng, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.
(The one who bows and the one who is bowed to. Both are by nature empty.)

Người lạy và người được lạy, cả hai đều không có bản chất riêng biệt. Mình và Bụt không phải là hai thực thể riêng biệt. Mình ở trong Bụt và Bụt ở trong mình, phải thấy cho được điều đó trước khi lạy xuống. Đây là một điểm rất đặc biệt của đạo Bụt. Những hạt giống của tuệ giác này có thể có mặt trong truyền thống Cơ-đốc giáo, và trong các tôn giáo khác, nhưng đã không biểu lộ ra một cách quá rõ rệt như trong đạo Bụt.

Khổ có vai trò của nó. Chính cái khổ giục người ta tìm đến với đạo, với đời sống tâm linh.  Niết bàn là tự do không còn bị ràng buộc bởi phiền não và sở tri. Phiền não chướng (obstacle of afflictions) và sở tri chướng (obstacle of wrong perceptions) có liên hệ với nhau. Cái này giúp tạo ra cái kia. Ví dụ như tin rằng có một cái “ta” riêng biệt là một sở tri chướng. Niềm tin này tạo ra mặc cảm hơn, thua, và bằng người tức là phiền não chướng vậy.

Vô dư y niết bàn: chứng đắc niết bàn dứt sạch phiền não – quả vị A la hán.  Hữu dư y: chứng đắc niết bàn nhưng còn chút ít (tàn dư) của phiền não – quả vị bất lai, a đà hoàn, tu đà hoàn.

Vô tác hoặc vô ngã: cho là chỉ có các pháp duyên với nhau mà làm ra nhân quả và nghiệp báo chứ không có một linh hồn bất diệt, không có kẻ làm người chịu, không có tác giả và thọ giả.

Tín ngưỡng Bà la môn: Phạm thiên (Brhama) là linh hồn vũ trụ (universal soul) hay đại ngã. Atma là linh hồn cá nhân (individual soul) hay tiểu ngã. Tiểu ngã sẽ đi luân hồi cho tới khi trả hết nghiệp báo thì trở về với đại ngã. Tín ngưỡng Phật giáo: không có linh hồn bất diệt, không có ngã.

Các bộ phái Phật giáo lớn hình thành sau khi Bụt nhập diệt:
Thương tọa bộ (theravāda, Phật giáo Nguyên thủy)
Đại chúng bộ (mahāsāṅghika)
Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada)

“Trong khóa tu mùa Đông năm nay, đại chúng đã được học rằng các tín ngưỡng luân hồi, nghiệp và quả báo đã có sẵn trong vài bộ Áo Nghĩa Thư (Upanishads) trước khi Bụt ra đời. So với tín ngưỡng Vệ Đà, tín ngưỡng Áo Nghĩa Thư đã là vượt bực lắm rồi, bởi vì trước đó, người ta chỉ tin vào sức cứu độ của thần linh và của sự cúng tế cùng chú thuật. Tin vào nghiệp và báo tức là không còn tin vào thần linh nữa. Tin vào luật nhân quả có tính cách lý trí và khoa học hơn. Bụt đã chấp nhận tín ngưỡng luân hồi, nghiệp và báo nhưng trong giáo lý của Bụt không có một cái ngã (atma), một linh hồn bất diệt đi luân hồi, tạo nghiệp và thọ báo. Tín ngưỡng của đạo Bụt về luân hồi, nghiệp và quả báo như thế rất khác với tín ngưỡng luân hồi, nghiệp và quả báo của truyền thống Bà La Môn. Nếu mình còn tin ở một linh hồn bất tử tạo nghiệp, thọ báo và đi luân hồi, thì niềm tin ấy không thật sự là một niềm tin Phật giáo.”

Trích trong bài “Ghi lại vắn tắt sự hành trì và học hỏi trong khóa tu” ở trang web Làng Mai.

 

Không có con đường nào về quê hương. Quê hương chính là con đường.

Tựa đề Không có con đường nào về quê hương. Quê hương chính là con đường.
Ngày nói ngày 9 tháng 12 năm 2012
Nơi nói Xóm Hạ, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung

“Nhữ đẳng tỳ khưu đương tự châu”, Bụt dạy các thầy nên quay về nương tựa nơi hải đảo tự thân.  Đó chính là quê hương của mỗi chúng ta, nơi ta có thể quay về trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở trong chánh niệm. Không có con đường nào về quê hương. Quê hương chính là con đường. (There is no way home. Home is the way.) Cứu cánh và phương tiện không phải là những thực thể riêng biệt ngoài nhau.  Chúng tương tức và cái này ở trong cái kia.

Cũng vậy, trong Tứ Diệu Đế, sự thật thứ ba “Diệt” (neruda, niết bàn) và sự thật thứ tư “Đạo” (magga) có thể thấy trong nhau.  Không có con đường đi tới niết bàn.  Niết bàn chính là con đường.

Khoa học đã tìm ra sự thật không sinh không diệt của vạn hữu, nhưng các khoa học gia đã không sống được với sự thật đó. Định luật bảo toàn năng lượng, định luật thứ nhất của nhiệt động học khẳng định rằng vật chất và năng lượng không thể tự sinh ra hay mất đi mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác.

“Mười hai nhân duyên mà ta thấy lặp lại hàng ngàn lần trong kinh không phải là hình thức giảng bày đạo lý duyên khởi hay nhất…Ta có thể trình bày lại đơn giản hơn giáo lý Mười hai chi để có thể tương ứng với Không như sau:

1. Vô minh
2. Hành
3. Thức
4. Danh sắc
5. Khổ Lạc Thọ
6. Ái Ố
7. Thủ Xả
8. Hữu Vô
9. Sinh Diệt
10. Luân hồi

Ta có thể giải thích chung như sau: Vì vô minh cho nên mới thấy các hành (như là ngã và pháp), và mới thấy thức là chủ thể (tách rời khỏi đối tượng), thấy thân và tâm (danh và sắc) là hai thực tại có thể tách rời nhau mà tồn tại, rồi mới có xảy ra chuyện yêu cái này ghét cái kia (ái ố) rồi mới có tâm muốn lấy cái này bỏ cái kia (thủ xả), mới bị kẹt vào hoặc cái hữu hoặc cái vô (hữu vô) và rốt cuộc bị giam giữ hoài trong các ý niệm có sinh và có tử (sinh diệt), phải luân hồi mãi mà không thực chứng được Niết bàn. Tuy nhiên, hai chi Thức và Danh Sắc không cần thiết lắm, bởi vì Hành đã là năm uẩn rồi, trong khi Thức và Danh Sắc đều đã có mặt trong uẩn với tư cách là các Hành.

Trích trong bài “Ghi lại vắn tắt sự hành trì và học hỏi trong khóa tu“.

 

Bạn Đã Về, Đã Tới Chưa? – Vô Thường Vô Ngã Chỉ Là Thuốc Giải Độc

Tựa đề Bạn Đã Về, Đã Tới Chưa? – Vô Thường Vô Ngã Chỉ Là Thuốc Giải Độc
Ngày nói ngày 16 tháng 12 năm 2012
Nơi nói Xóm Thượng, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung
Thầy mở đầu bằng lời nhắn nhủ với độc giả tuần báo Times qua một nữ ký giả của tờ báo này nhiều năm về trước “Go home and take care of yourself” (Hãy về nhà để lo cho bản thân mình!”. “Về nhà” ở đây muốn nói tới sự trở về với chính mình, về với hải đảo tự thân bây giờ và ở đây. Thầy nhắc tới vụ thảm sát mới đây ở Newtown, Connecticut và nói về căn bệnh của thời đại. Thầy kêu gọi mỗi người hãy trở về để tự chữa trị cho chính mình trước khi có thể giúp cho gia đình, người thân, và thế giới.

Ở Việt Nam có ít nhất hai thầy dạy thiền: Thầy Thanh Từ thì dạy “biết vọng không theo”. Thầy Nhất Hạnh dạy “đã về, đã tới”. “Đã về, đã tới” là thực tập chủ yếu và quan trọng nhất của Làng Mai. Sự thực tập này đòi hỏi hành giả dừng lại mọi suy nghĩ đang lôi kéo mình về quá khứ và tương lai, trở về với “hải đảo tự thân”, ngôi nhà đích thực của mình, để cho thân và tâm có cơ hội nghỉ ngơi và hồi phục.

Tam Pháp Ấn theo giáo lý Bắc Tông gồm có: Vô thường, Vô ngã, Niết bàn. Trong khi đó Nam Tông, Theravada, dạy Vô thường, Vô ngã, và Khổ. Khổ nên được thay thế bằng Niết bàn. Vô thường, vô ngã là thuốc giải độc (antidote) có công dụng giúp cho ta hết khổ. Hết khổ, bệnh rồi thì có thể quăng thuốc đi! Vô thường, vô ngã, và các giáo lý khác của đạo Bụt là chiếc bè đưa ta qua sông, là ngón tay chỉ cho thấy mặt trăng, là cái cuốc ta mua về để cuốc đất trồng khoai. Dùng xong ta có thể bỏ đi được. Nó không phải là chân lý để ta bảo vệ và thờ phụng. Thấy được điều này sẽ giúp ta tránh được sự cuồng tín (fanaticism) và giáo điều (dogmatism) trong khi thực tập và giảng dạy đạo Bụt.

Chuyển Luân Thánh Vương

Tựa đề Chuyển Luân Thánh Vương
Ngày nói ngày 31 tháng 1 năm 2013
Nơi nói Xóm Hạ, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung
do Cindy Nguyen

Trong buổi giảng pháp này, Thầy Nhất Hạnh (Thầy) đã nói qua về lịch trình Tết tại tu viện, ôn lại bài giảng nói về kinh người áo trắng, và sau đó nói đến đề tài “Chuyển Luân Thánh Vương”. Thầy cũng đề cập đến sự áp dụng đạo Bụt vào các nước dân chủ.Thầy nhắc lại lần trước Thầy nói về Kinh người áo trắng- xưa kia Bụt giảng cho ông Cấp Cô Độc- một thương gia. Đồng thời kinh này cũng để giúp cho đời sống tâm linh hàng ngày của cư sĩ (người tu tại gia). Chỉ cần giữ 5 giới (không sát sanh, không uống rượu, không nói dối, không tà dâm, không nói lời chia rẽ); 4 phép trì niệm (Bụt, pháp, tăng, giới) thì sẽ không sa vào các đường xấu, có hạnh phúc ngay trong hiện tại và sẽ tới giác ngộ hoàn toàn.

Bụt dạy vua Manahama nghệ thuật lãnh đạo dân bằng cách giữ 5 giới cộng thêm 5 lực đó là tín, tấn, niệm, định và huệ. Tín là tin vào giáo pháp, dùng đức, không dùng bạo lực uy quyền giải quyết vấn đề. Tấn là siêng năng tinh tấn. Niệm là chăm niệm Bụt, pháp và tăng, giới. Đặc biệt riêng cho các nhà chính trị có 6 niệm, tức là thêm 2 niệm-thí và thiên. Niệm thí là rộng lòng giúp dân chúng gặp khó khăn mà không mong cầu đền đáp hay còn gọi là thí vô tướng. Chỉ vui khi thấy người khác được vui. Niệm Thiên là niệm các vị thần trời. Định là giữ vững tâm tu. Huệ là trí tuệ đạt được nhờ tu hành.

Ngày xưa vua còn được gọi là chuyển luân thánh vương. Chuyển là xoay chuyển, luân là bánh xe. Vua còn gọi là thiên tử tức là con của trời. Vua có nhiều quyền lực, và có bảy báu. Bảy báu gồm có: chiến sa tức là xe ra trận; tượng là voi; mã là ngựa; châu là của cải châu báu; nữ là hoàng hậu, cung tần mỹ nữ; cư sĩ là các bộ trưởng lo về văn hoá, chính trị, kinh tế….; trú binh thần là các tướng tài. Nhờ bảy báu này, vua có sức mạnh, quyền lực rất lớn. Bụt khuyên vua nên buông bỏ những trừng phạt bằng gươm dao, mà dùng giáo pháp. Nhờ dân chúng ủng hộ, nên thi hành dễ dàng. Bụt là Chuyển Luân Pháp Vương tức là nhà lãnh đạo bằng giáo pháp.

Bụt khuyên vua phải lấy chánh pháp làm chuẩn, bảo trợ chánh pháp bằng 5 giới và 6 niệm, khuyến khích dân chúng cùng thực hành. Tạo nên đoàn kết trong cả nước. Nếu có các vị A-la-hán- những vị đã tu thành đạo, vua phải đến thăm, tham vấn vì họ là đại diện cho pháp, định, và huệ. Vua đến để học hỏi cách xử lý, chứ không phải để tặng quà.

Ảnh hưởng những lời dạy này, các vua triều Nguyễn ở Việt nam đã phải ăn chay, nằm đất để tế trời mỗi khi đất nưoc có nạn. Trong những lúc như thế vua phải tu hành, không được gần nữ và cầu nguyện cho toàn dân. Ở một nước dân chủ, mọi việc do duyên khởi, mọi người nương tựa và tác động lẫn nhau. Bụt dạy nếu có tu học đều đặn, đoàn kết, hoan hỉ, và sử dụng ái ngữ, không sát sanh, giữ gìn các giới đã thọ, tuân thủ các luật đã đặt ra thì sẽ có được một nước dân chủ vững mạnh. Tôn trọng ý kiến người có kinh nghiệm, giúp đỡ người khó khăn, đi chùa, tôn trọng tham vấn các bật tu thành đạo, hôn nhân phải có cưới hỏi đàng hoàng là một số yếu tố làm cho nước dân chủ được vững mạnh. Trong phần kết, Thầy nói nếu ta siêng năng tu tập và giữ giới thì đã qua bờ bên kia rồi.

 

Phương Pháp Học Phật

Tựa đề Phương Pháp Học Phật
Ngày nói ngày 11 tháng 11 năm 2012
Nơi nói Xóm Mới, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung

Bài nói dài 99 phút. Theo tín ngưỡng Bà La Môn, sức mạnh của cầu nguyện và chú thuật có thể chuyển đổi tình trạng. Giai cấp Bà La Môn là cao nhất trong bốn giai cấp (tăng lữ, vua quan, thương gia, và cùng đinh). Kinh điển (Vệ Đà, Áo Nghĩa Thư) là thông điệp của các vị thần linh và được xem như là sự thật. Kỳ Na Giáo và Phật Giáo là hai giáo phái có nguồn gốc Bà La Môn giáo.

Tín ngưỡng luân hồi và nghiệp báo đã có trong Bà La Môn giáo trước khi Bụt ra đời, được Bụt tiếp nhận và sửa đổi cho phù hợp với giáo lý Phật Giáo. Tứ thiền cũng đã có trong Bà La Môn giáo trước khi Bụt ra đời. Sơ thiền: ly sinh hỷ lạc, nhị thiền: định sinh hỷ lạc, tam thiền: ly hỷ diệu lạc, tứ thiền: phi khổ phi lạc.

Tứ định: 1. không vô biên xứ, 2. thức vô biên xứ, 3. vô sở hữu xứ, 4. phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Tứ phạm trú: từ bi hỷ xả

Tứ thần túc:
1. Dục như ý túc: mong ước hoài bảo mãnh liệt
2. Tâm như ý túc
3. Cần như ý túc: tứ chánh cần, tưới hoa chọn lọc (selective watering)
4. Quán như ý túc: sức mạnh của thiền quán,cắt bỏ vô minh, đem lại giải thoát

Trong bài pháp thoại trước đã đề cập hai trong số các phương pháp học Phật giáo (Buddhist methodology): 1. Tứ Tất Đàn (the four criterion of truths), 2. Tứ Y (the four reliances). Bài này sẽ tiếp tục nghiên cứu các phương pháp kế tiếp:

3. Nhị Đế: gồm có thế tục đế (kinh bất liễu nghĩa) và thắng nghĩa đế (kinh liễu nghĩa) . Có những khái niệm tương tự trong khoa học: trật tự ngoại nhiếp (explicate orders) và trật tự nội nhiếp (implicate order); vật lý cổ điển (classical physics represented by Newton) và cơ học lượng tử (quantum mechanic).

4. Tánh Tướng Biệt Quán: (separate investigation of the ontological ground and the phenomenal world). Không nghiên cứu trộn lẫn thế giới bản thể (ontological ground) và thế giới hiện tượng (phenomenal world)

5. Tùng Tướng Nhập Tánh

 

Phép Lạ Của Tình Thương

Tựa đề Phép Lạ Của Tình Thương
Ngày nói ngày 15 tháng 11 năm 2012
Nơi nói Xóm Thượng, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại
 Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại
Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Tóm tắt nội dung

Đừng mặc cảm cho mình là vô dụng, mỗi chúng ta đều có khả năng thực hiện phép lạ, có quyền năng của tình thương. Bạn không cần phải đợi đến khi có nhiều tiền, nhiều quyền lực. Hãy làm một bà tiên, ông tiên ngay bây giờ bằng cách phát khởi một tư tưởng thương yêu tha thứ có thể chữa lành vết thương trong tự thân và trong người kia, bằng cách nói một lời ái ngữ ngọt ngào và đầy lòng biết ơn, bằng cách làm một hành động mang tích cách cứu giúp, nâng đỡ, bảo hộ. Bạn sẽ thấy thế giới bừng sáng lên như phép lạ đã hiển bày.

Cốt tủy của đạo Bụt không phải là giáo lý luân hồi, nghiệp, và quả báo. Những giáo lý đã có sẵn trước khi Bụt ra đời. Bụt chấp nhận và sửa đổi làm cho hay hơn. Trái tim của đạo Bụt, cống hiến to lớn nhất của Bụt là đã tìm ra con đường bát chánh thoát khổ. Con đường bát chánh dựa trên cái thấy của Tứ Diệu Đế.

Bát Chánh Đạo:
Chánh niệm, chánh định, sẽ đưa tới chánh kiến (niệm, định, tuệ)
Có cái thấy đúng đắn (Chánh kiến) sẽ đưa tới:
Chánh tư duy, chánh ngữ, và chánh nghiệp (thân, khẩu, ý)
Chánh mạng, chánh tinh tấn
Tất cả nền tảng giáo lý của đạo Bụt dựa trên một điều duy nhất đó là có cái thấy đúng đắn, đó là chánh kiến. Chánh kiến giúp bạn thấy rõ được khổ đau của mình và từ đó thấy được khổ đau của người kia. Hiểu được mình và người kia sẽ thì tình thương và sự tha thứ sẽ trào lên thay chỗ cho sự hờn giận và oán trách.
Trong Kinh Trung Đạo Nhân Duyên, Bụt nói rằng chánh kiến là cái thấy vượt lên trên các khái niệm có và không.
Kinh Chiên Đà nói về Tam Pháp Ấn (the Three Dharma Seals). Một giáo lý không có ba dấu ấn này thì giáo lý đó không phải là Phật giáo.
1. Chư hành vô thường
2. Chư pháp vô ngã: Tín ngưỡng Bà La Môn tin rằng có một linh hồn bất diệt, tiểu ngã (atma) đi trong luân hồi, học cái bài học cho đến khi hết luân hồi thì trở về với linh hồn của vũ trụ, đại ngã (brahma). Tín ngưỡng Cơ Đốc Giáo cũng tin rằng có một linh hồn bất diệt. Tuy nhiên, Bụt không chấp nhận có một cái ngã thường hằng, bất diệt.
3. Niết bàn tịch diệt
Quán hữu vô phẩm trong “Trung Quán Luận” của thầy Long Thọ. Bản chất của vạn pháp là không sinh không diệt, không có không không. Thầy dẫn Định luật bảo toàn khối lượng của Antoine Lavoisier, định luật thứ nhất của nhiệt động học nói rằng vật chất và năng lượng không tự nhiên sinh ra và mất đi mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác.
Nhiều học giả phương Tây đã hiểu lầm Bụt khi cho rằng niết bàn là một cái chết vĩnh hằng (eternal death, không đầu thai trở lại nữa). Trong khi kinh luận cho ta thấy niết bàn là sự an ổn đạt được khi các ý niệm sinh diệt có không không còn nữa.

 

Tín mộ hay tâm linh

Tựa đề Tín mộ hay tâm linh
Ngày nói ngày 24 tháng 1 năm 2013
Nơi nói Xóm Thượng, Làng Mai, nước Pháp
Tên khoá tu Khóa tu 2012-2013 An cư kiết đông
Chủ đề khoá tu Bạn có phải là tri kỷ của Bụt?

Xem pháp thoại

Xin bấm vào dấu hiệu play để xem video của bài pháp thoại.

Nghe pháp thoại  Xin bấm vào dấu hiệu play để nghe audio của bài pháp thoại.

Tải về bài pháp thoại: Xin nhấp chuột phải vào link, chọn “Save Link As…” để tải về bài pháp thoại.

Đọc pháp thoại phiên tả: Xin bấm vào đây.

Tóm tắt nội dung

Thầy giảng tiếp Kinh Người Áo Trắng. Trong kinh này Bụt dạy người cư sĩ chỉ cần thực tập năm giới và bốn phép tùy niệm (Tứ Tăng Thượng Tâm) là có thể sống hạnh phúc trong hiện tại và chứng được quả Tu Đà Hoàn (nhập lưu, stream enterer). Người chứng quả này thì không bị thối đọa vào các đường xấu ác như địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, atula mà chỉ cần quay lại trong các cõi người và trời tối đa bảy lần là có thể đạt được giải thoát hoàn toàn.

Cụm từ hiện pháp lạc trú được lập đi lập lại nhiều lần trong kinh này. Không có một ranh giới rỏ ràng giữa sự thực tập tín mộ (devotional), tâm linh (spiritual), và chú thuật (magical) . Một hình thức thực tập bề ngoài có vẻ như tín mộ nhưng nội dung có thể rất tâm linh. Thí dụ như đeo tượng phật chẳng hạn. Nếu đeo để tin tưởng là có phật phù hộ che chở cho mình thì đó là tín mộ. Nhưng nếu đeo tượng phật để luôn được nhắc nhở rằng mình đã có một con đường để chuyển hóa khổ đau và sống thảnh thơi hạnh phúc trong hiện tại thì đó là một hình thức thực tập rất tâm linh.

 

Mười hạnh của đức Bồ tát Phổ Hiền:

Nhất giả, lễ kính chư Phật.
Nhị giả, xưng tán Như Lai.
Tam giả, quảng tu cúng dường.
Tứ giả, sám hối nghiệp chướng.
Ngũ giả, tùy hỷ công đức.
Lục giả, thỉnh chuyển pháp luân.
Thất giả, thỉnh Phật trụ thế.
Bát giả, thường tùy Phật học.
Cửu giả, hằng thuận chúng sanh.
Thập giả, phổ giai hồi hướng.